Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Truyen_Co_Tich__Ech_Ngoi_Day_Gieng__The_Legend_of_the_Frog_on_the_Bottom_of_the_Well__YouTube.flv Various_Artists__Quoc_Te_Ca.mp3 Uyen_Linh__Cho_Nguoi_Noi_Ay.mp3

    Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    Chào mừng quý vị đến với website của Lê Thùy Nhung - Trường CĐSP Hòa Bình

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Việt Bắc - chính văn 23

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thùy Nhung (trang riêng)
    Ngày gửi: 19h:11' 23-01-2016
    Dung lượng: 4.6 MB
    Số lượt tải: 1
    Số lượt thích: 0 người
    VIỆT BẮC
    Tố Hữu
    (Trích)
    I. Tìm hiểu chung:
    1. Hoàn cảnh sáng tác:
    - Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết. Hòa bình lập lại ở miền Bắc.
    - Tháng 10 - 1954, các cơ quan trung ương của Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về lại thủ đô Hà Nội để tiếp tục lãnh đạo cách mạng.
    - Nhân sự kiện thời sự trọng đại này, Tố Hữu viết bài thơ "Việt Bắc" để thể hiện tình nghĩa sâu nặng của những người cán bộ, chiến sĩ về xuôi với quê hương cách mạng.
    2. Kết cấu chung của bài thơ:
    - Toàn bộ bài thơ gồm 150 câu thơ lục bát và được chia làm hai phần:
    + 90 câu đầu:
    Tình cảm thủy chung son sắt của những người cán bộ về xuôi với quê hương cách mạng thông qua nỗi nhớ da diết.
    + 60 câu sau:
    Sự gắn bó giữa miền ngược với miền xuôi và ước mơ về một Việt Bắc sẽ được xây dựng trong tương lai.
    Hát giao duyên
    "Mình về ta chẳng cho về - Ta nắm vạt áo, ta đề bài thơ"
    - Bài thơ được viết theo kiểu đối đáp nam - nữ, phỏng theo lối hát giao duyên của dân ca.
    3. Vị trí đoạn trích:
    Thuộc 90 câu đầu của bài thơ.
    II. Đọc - hiểu văn bản :
    1. Sắc thái tâm trạng và lối đối đáp của nhân vật trữ tình:
    - Đoạn thơ đầu là 2 câu hỏi của người ở lại:
    “Mình về, ….
    … nhớ nguồn”
    + Kiểu xưng hô mình – ta : ngọt ngào, đầy yêu thương.
    + Điệp ngữ: “Mình về, mình có nhớ…”: âm điệu ray rứt, băn khoăn.
    a. Sắc thái tâm trạng :
    * Nỗi niềm của người ở lại:
    + “Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”:
    Đây là cuộc chia tay của những người đã từng gắn bó suốt "mười lăm năm" (1941 – 1954)
     một chặng đường dài với biết bao kỉ niệm ân tình, cùng sẻ chia mọi cay đắng ngọt bùi.
    + Những hình ảnh “cây – núi, sông – nguồn”:
    tiêu biểu cho núi rừng Việt Bắc – cái nôi của cách mạng, nuôi dưỡng người cán bộ.
    - Đoạn thơ với nhiều câu hỏi liên tiếp:
    “Mình đi, có nhớ…, Mình về, có nhớ…, Mình về, còn nhớ…, Mình đi, mình có nhớ…”

     là cảm xúc dâng trào, diễn tả nỗi niềm day dứt khôn nguôi của người ở lại.
    => Tình cảm chân thành, sâu sắc của đồng bào Việt Bắc.
    - Đoạn thơ thứ hai là lời đáp lại của người ra đi:
    “Tiếng ai …
    … hôm nay”
    + Các từ láy “tha thiết”, “bâng khuâng”, “bồn chồn”:
    gợi tả chính xác không khí và tâm trạng lúc chia tay.
    + Hình ảnh “áo chàm”:
    hoán dụ chỉ đồng bào Việt Bắc – những con người giản dị mà nghĩa tình chân thành.
    + “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”:
    . dấu chấm lửng cuối câu, nhịp thơ ngắt quãng, ngập ngừng  nỗi niềm đầy xúc động, bâng khuâng.
    . “biết nói gì”: là không phải không có gì để nói, mà vì quá xúc động nên nghẹn ngào không nói được thành lời.
    + Dùng cặp đại từ “mình – ta” và những hình ảnh so sánh quen thuộc:
    “Ta với mình, mình với ta
    Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh
    Mình đi mình laị nhớ mình
    Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu”
     khẳng định tấm lòng thủy chung son sắt với cách mạng.
    b. Cấu tứ - lối đối đáp:
    - Hình thức đối đáp:
    + Tác giả dùng lối đối đáp, xưng hô mình – ta thường thấy trong ca dao để thể hiện tình cảm cách mạng.
    - Cả lời hỏi và đáp đều triền miên trong nỗi nhớ:
    Hỏi và đáp đều mở ra bao nhiêu kỷ niệm, bao nỗi nhớ niềm thương.
    - Đối đáp – đối thoại cũng là độc thoại:
    Thực ra, bên ngoài là đối đáp, còn bên trong là lời độc thoại, là sự biểu hiện tâm tư của nhà thơ, của những người tham gia kháng chiến.
    => Chuyện ân tình cách mạng được khéo léo thể hiện như tâm trạng của tình yêu đôi lứa.
    2. Vẻ đẹp của cảnh thiên nhiên và cuộc sống con người Việt Bắc qua hồi tưởng của người cán bộ về xuôi:
    a. Thiên nhiên:
    - Đoạn thơ là hồi ức về những kỉ niệm đẹp: điệp từ “nhớ”, “nhớ sao”, “nhớ gì”… xuyên suốt.
    - Cảnh núi rừng Việt Bắc:
    Hiện lên đa dạng, sinh động trong nhiều khoảng không gian và thời gian khác nhau; có những nét riêng biệt, độc đáo, khác hẳn những miền quê khác:
    “Nhớ gì …… vơi đầy”.
    + Nỗi nhớ Việc Bắc được so sánh “như nhớ người yêu”
     nỗi nhớ cháy bỏng, da diết, mãnh liệt.
    + Điệp từ “nhớ” đặt ở đầu câu  như liệt kê ra từng nỗi nhớ cụ thể:
    . nhớ ánh nắng ban chiều,
    . ánh trăng buổi tối, không gian gợi cảm nên thơ
    . những bản làng ẩn hiện trong sương sớm,
    . những ánh lửa hồng trong đêm khuya,
    . những tên núi, tên rừng, tên sông suối, nương rẫy quen thuộc thân yêu
     Cảnh đẹp, có phần hoang sơ nhưng không hiu quạnh mà thơ mộng, ấm áp.
    b. Con người:
    Trong nỗi nhớ của nhà thơ, đồng bào Việt Bắc hiện lên với những phẩm chất cao đẹp:
    - Họ gắn bó với cách mạng cùng “mối thù nặng vai”, cùng chia sẻ đắng cay ngọt bùi với cách mạng:
    “Ta đi ta nhớ … … đắp cùng”
    - Tuy họ nghèo về vật chất nhưng “đậm đà lòng son", giàu về tình nghĩa:
    “Nhớ người mẹ … … bắp ngô”
    - Họ lạc quan yêu đời, gắn bó cùng kháng chiến dù còn nhiều gian khổ, thiếu thốn:
    “Nhớ sao……núi đèo”
    - Cuộc sống của đồng bào Việt Bắc: êm ả, bình dị, tiếng chày hòa trong tiếng suối xa:
    “Nhớ sao tiếng mõ……suối xa”
    => Con người Việt Bắc nghèo khổ nhưng cần cù, thủy chung và sâu nặng ân tình.
    c. Bộ tranh tứ bình: Cảnh thiên nhiên và con người hòa quyện thắm thiết:
    Đẹp nhất trong nỗi nhớ về Việt Bắc là sự hoà quyện thắm thiết giữa cảnh và người:
    “Ta về… thuỷ chung”.
    - Hai câu đầu đoạn thơ, tác giả giới thiệu chung về cảm xúc:
    + Câu hỏi tu từ "Ta về mình có nhớ ta?"
     là cái cớ để người ra đi bày tỏ tấm lòng mình: "Ta về … cùng người"
    + Hình ảnh "hoa cùng người"
     gợi lên sự gắn bó giữa thiên nhiên và con người trong bức tranh quê hương Việt Bắc.
    - Tám câu sau: bức tranh cụ thể của quê hương Việt Bắc trong nỗi nhớ của người ra đi:
    + Cảnh và người: có sự hòa quyện bởi cách sắp xếp độc đáo theo lối xen kẽ: câu lục tả cảnh, câu bát tả người.
    + Thiên nhiên Việt Bắc: được miêu tả diễn biến theo bốn mùa, mỗi mùa có nét đặc trưng riêng, tạo nên một bức tranh tứ bình rất đẹp
    o Vào mùa đông: “Rừng xanh … thắt lưng”
    . Trên cái nền xanh bạt ngàn của núi rừng Việt Bắc, xuất hiện những hoa chuối "đỏ tươi" như những ngọn lửa thắp sáng rừng xanh.
     Sự đối chọi hai màu xanh– đỏ làm trẻ lại màu xanh trầm tịch của rừng già và xua tan đi cái lạnh lẽo của mùa đông vùng cao.
    . Hình ảnh "dao gài thắt lưng" phản quang "ánh nắng"
     rất gợi cảm, tạo thành điểm sáng khiến con người trở nên nổi bật, trở thành trung tâm của bức tranh.
    o Mùa xuân: “Ngày xuân …sợi giang”
    . Nhớ Việt Bắc ngày xuân là nhớ đến hoa mơ "nở trắng rừng"
     Chữ "trắng": gợi lên một sắc trắng tinh khiết, mênh mang, một thế giới hoa mơ bao phủ  sức xuân ngập tràn đất trời núi rừng Việt Bắc.
     Mùa xuân trong sáng, tinh khôi và đầy sức sống.
    . Nhớ người thợ đan nón "chuốt từng sợi giang"
     Động từ "chuốt": vừa gợi lên sự khéo léo, kiên nhẫn, tỉ mỉ của con người Việt Bắc.
    o Mùa hạ: “Ve kêu .... một mình”
    . Nhớ Việt Bắc mùa hè: là nhớ tiếng ve râm ran làm nên khúc nhạc rừng sôi động, nhớ màu vàng của “rừng phách đổ vàng”
     Với từ "đổ", biểu thị sự chuyển màu đồng loạt
     người đọc có cảm giác dường như tiếng ve đã thúc giục ngày hè trôi nhanh, làm cho rừng phách thêm vàng.
    . Hình ảnh cô thiếu nữ đi "hái măng một mình" giữa rừng vầu, rừng nứa, rừng trúc: không hề lẻ loi, cô đơn mà chịu khó tận tụy với công việc.
    * Mùa thu Việt Bắc: không kém phần nên thơ:
    “Rừng thu…
    …thủy chung”
    . Nhớ vầng trăng Việt Bắc giữa rừng thu. Trăng "rọi" qua tán lá rừng xanh, trăng thanh mát rượi  gợi lên cảnh sống yên ả, "hoà bình”, nên thơ.
    . Nhớ con người Việt Bắc luôn lạc quan, họ ca hát về mối ân tình thuỷ chung với cách mạng.
    => Với kết cấu đan xen, đoạn thơ làm nổi bật vẻ đẹp hài hòa giữa thiên nhiên và con người:
    + Thiên nhiên Việt Bắc: tươi đẹp, con người Việt Bắc: bình dị, chịu thương chịu khó, đầy nghĩa tình.
    + Bằng những việc làm tưởng chừng nhỏ bé của mình, những con người Việt Bắc đã góp phần tạo nên sức mạnh vĩ đại của cuộc kháng chiến.
    3. Hồi tưởng của người ra đi về khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong chiến đấu, vai trò của Việt Bắc trong cách mạng và kháng chiến:
    a. Khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong chiến đấu:
    - Việt Bắc từng khắc ghi những kỉ niệm về những cuộc hành quân ra trận thật hùng vĩ của bộ đội và nhân dân:
    “Những đường Việt Bắc của ta

    Đèn pha bật sáng như ngày mai lên”.
    . Từ láy tượng thanh "rầm rập":
     diễn tả tiếng bước chân mạnh mẽ của cuộc hành quân, gợi lên nhịp độ khẩn trương, gấp gáp của số lượng người đông đảo cùng hành quân  tạo thành một sức mạnh tổng hợp làm rung chuyển mặt đất.
    . Hình ảnh so sánh, cường điệu:
    "Đêm đêm rầm rập như là đất rung"
     nêu bật sức mạnh đại đoàn kết của quân dân ta, chung sức chung lòng đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi..
    + Hình ảnh bộ đội ta hành quân ra trận:
    "Quân đi … … mũ nan"
    . Từ láy "điệp điệp trùng trùng":
     khắc họa đoàn quân đông đảo bước đi mạnh mẽ như những đợt sóng dâng trào, tưởng chừng như kéo dài đến vô tận.
    . Hình ảnh vừa hiện thực vừa ẩn dụ: "ánh sao đầu súng"
     ánh sao trong đêm tối sáng ngời đầu mũi súng, ánh sao của lí tưởng dẫn đường cho người chiến sĩ đánh đuổi kẻ thù xâm lược
     thể hiện niềm tin lạc quan chiến thắng trong tâm hồn người lính ra trận.
    + Cùng hành quân với bộ đội là những đoàn dân công phục vụ chiến đấu: "Dân công …lửa bay"
    . Những bó đuốc đỏ rực soi đường:
     làm sáng bừng hình ảnh những đoàn dân công tiếp lương tải đạn. Họ đến từ nhiều miền quê với đủ mọi phương tiện chuyên chở, quyết tâm, kiên cường vượt núi đèo để đảm bảo sức mạnh cho bộ đội chiến đấu và chiến thắng.
    . Hình ảnh cường điệu:
    "bước chân nát đá"
     khẳng định ý chí phi thường, sức mạnh to lớn của nhân dân trong kháng chiến.
     Đây là cuộc chiến đấu của cả dân tộc vì chính nghĩa, vì thế ta nhất định thắng lợi.
    + Niềm lạc quan tin tưởng vững chắc:
    "Nghìn đêm …… ngày mai lên"
    . Tương quan đối lập giữa bóng tối và ánh sáng:
     Bóng đêm đen tối thăm thẳm (gợi kiếp sống nô lệ của dân tộc dưới ách đô hộ của kẻ thù) >< ánh sáng của niềm tin vào ngày mai chiến thắng huy hoàng, tốt đẹp.
    . Ánh sáng lấn át bóng tối:
     chiến thắng của dân tộc là tất yếu trước mọi kẻ thù hắc ám, ngày mai tươi sáng, hạnh phúc nhất định sẽ đến với dân tộc ta.
    => Đoạn thơ vừa đậm chất sử thi vừa giàu tính lãng mạn  khắc họa sâu sắc cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kì, đầy gian khổ hi sinh nhưng nhất định thắng lợi của dân tộc.
    - Dân tộc ấy vượt qua bao thiếu thốn, gian khổ, hi sinh để lập nên những kì tích, những chiến công:
    + “Tin vui …… núi Hồng”
     nhịp điệu thơ dồn dập, náo nức, phấn khởi + liệt kê những địa danh trải dọc “trăm miền” đất nước gắn với tin vui chiến thắng
     cho thấy tốc độ thần kì của chiến thắng, niềm vui như lan tỏa đi và từ khắp nơi bay về Việt Bắc.
    - Tố Hữu còn đi sâu lí giải những cội nguồn sức mạnh dẫn tới chiến thắng:
    + Sức mạnh của lòng căm thù:
    “Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai”
    + Sức mạnh của tình nghĩa thuỷ chung:
    “Mình đây ta đó đắng cay ngọt bùi”
    + Sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân:
    “Nhớ khi giặc… một lòng”
     toàn dân:
    + đánh giặc ngay tại chỗ (“Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây”),
    + dựa vào rừng núi để đánh giặc (“Núi giăng … vây quân thù”),
    + quân dân đoàn kết (“Đất trời ta cả chiến khu một lòng”)
     tất cả tạo thành hình ảnh đất nước đứng lên
    b. Vai trò của Việt Bắc trong cách mạng và kháng chiến:
    - “Mình về, có nhớ núi non,

    Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa.”
    Lễ thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân
    + Giọng thơ trang trọng mà thiết tha: nhấn mạnh, khẳng định  Việt Bắc là quê hương của cách mạng, là căn cứ địa vững chắc, nơi khai sinh những địa danh mãi mãi đi vào lịch sử dân tộc.
    + Việt Bắc còn là trái tim, đầu não của cuộc kháng chiến, là nơi các chủ trương của Đảng và Chính phủ toả đi khắp nước, chỉ đạo sự nghiệp cách mạng:
    Điều quân… các khu…”
    1950 - Bác ở chiến khu Việt Bắc
    + Việt Bắc là niềm tin, là hi vọng, niềm mong đợi của cả dân tộc, của những con người Việt Nam yêu nước vì Việt Bắc có Bác Hồ, có Chính phủ sống và làm việc:
    “Ở đâu u ám quân thù,

    Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền”
     Những vần thơ mộc mạc, giản dị mà thắm thiết nghĩa tình: khẳng định niềm tin yêu của cả nước đối với Việt Bắc là vô bờ.
    4. Nghệ thuật đậm đà tính dân tộc:
    a. Về thể loại:
    - Sử dụng thể thơ: lục bát, một thể thơ truyền thống mang vẻ đẹp cổ điển.
    - Cấu tứ bài thơ: là cấu tứ ca dao với lối đối đáp của hai nhân vật trữ tình “: "mình" - "ta".
    - Sử dụng hình thức tiểu đối của ca dao: vừa nhấn mạnh ý vừa tạo ra nhịp thơ cân xứng, uyển chuyển, làm cho lời thơ dễ nhớ, dễ thuộc, thấm sâu vào tâm tư:
    + “Nhìn cây nhớ núi/nhìn sông nhớ nguồn”
    + “Bâng khuâng trong dạ / bồn chồn bước đi”
    + “Trám bùi để rụng,/ măng mai để già”
    + “Nông thôn phát động,/ giao thông mở đường.”
    b. Về ngôn ngữ:
    - Sử dụng lời ăn tiếng nói của nhân dân: rất giản dị, mộc mạc nhưng cũng rất sinh động
     để tái hiện một thời cách mạng và kháng chiến đầy gian khổ mà dạt dào nghĩa tình.
    + Đó là thứ ngôn ngữ rất giàu hình ảnh cụ thể:
    “Nghìn đêm thăm thẳm sương dày”
    “Nắng trưa rực rỡ sao vàng”
    + Cũng là thứ ngôn ngữ giàu nhạc điệu:
    “Chày đêm nện cối đều đều suối xa”
    “Đêm đêm rầm rập như là đất rung”
    - Sử dụng nhuần nhuyễn phép trùng điệp của ngôn ngữ dân gian:
    + “Mình về, mình có nhớ ta”
    “Mình về, có nhớ chiến khu”
    + “Nhớ sao lớp học i tờ”
    “Nhớ sao ngày tháng cơ quan”
    “Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều”
     tạo giọng điệu trữ tình tha thiết, ngọt ngào, như đưa ta vào thế giới của kỷ niệm và tình nghĩa thuỷ chung.
    III. Tổng kết:
    GHI NHỚ ( SGK)
     
    Gửi ý kiến